DIỄN ĐÀN LỚP YHCT KHÓA 2008*2014 - ĐHYD HUẾ
Chào mừng bạn đến với diễn đàn của lớp YHCT Khóa 2008-2014 Trường ĐHYD Huế. Nếu bạn chưa là thành viên hãy dành chút thời gian Đăng Ký nhé. Cảm ơn bạn!
Mời bạn đăng ký!

DIỄN ĐÀN LỚP YHCT KHÓA 2008*2014 - ĐHYD HUẾ


 
Trang ChínhGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Chào mừng bạn đến với forum lớp YHCT 2k8 - ĐHYD Huế. ***CHÚC CÁC BẠN TÌM ĐƯỢC NHỮNG ĐIỀU BỔ ÍCH***
News & Announcements
  • Gallery & Others
Top posters
hoangvietdung1010
 
handoivodoi
 
virus_tinhyeu
 
con_ga_1605
 
Admin
 
daweiyct
 
voicoi
 
vitlala
 
hungct
 
belon_20042000
 

Share | 
 

 Cây tre, vị thuốc lâu đời

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
hoangvietdung1010
Lớp trưởng
Lớp trưởng
avatar

Ngày tham gia : 13/03/2011
Posts : 171
Tuổi : 27
Sinh nhật : 10/10/1990
Đến từ : Huế
Points : 235
Reputation : 12

Bài gửiTiêu đề: Cây tre, vị thuốc lâu đời   Tue Mar 22, 2011 5:52 pm

Để chữa mất ngủ, tâm phiền hồi hộp, dùng tinh tre 16 g, mạch
môn (củ cây tóc tiên) 16 g, sắc nước uống trong ngày. Tinh trẻ là vị
thuốc chế bằng cách cạo bỏ vỏ xanh bên ngoài của cây tre, sau đó cạo lấy
lớp thân bên trong thành từng mảnh hay sợi mỏng.

Cây tre được sử dụng làm thuốc trong dân
gian và đông y từ lâu đời. Nhiều vị thuốc được chế từ cây này. Chẳng
hạn, tinh tre có tác dụng thanh hóa nhiệt đàm, trừ phiền, chống nôn;
dùng chữa ho đờm vàng đặc, bồn chồn mất ngủ, nôn mửa.

Trúc diệp là lá tre bánh tẻ hoặc lá non của cây tre, có tác
dụng thanh nhiệt trừ phiền, sinh tân dịch, lợi niệu. Nó thường được dùng
chữa nhiệt tà gây tổn thương tân dịch, phiền táo, khát nước, miệng lưỡi
lở loét, tiểu tiện sẻn đỏ. Tác dụng của lá bánh tẻ và lá non còn cuộn
tròn (búp tre) tương tự như nhau; nhưng khi chữa các bệnh nhiệt ở phủ vị
thì người ta thường dùng lá, còn khi chữa bệnh nhiệt ở tạng tâm thường
dùng búp.

Trúc lịch là vị thuốc
chế bằng cách chặt tre tươi, cắt thành từng đoạn, nướng lên và vắt lấy
nước; hoặc uốn cong cây tre non ngay tại bụi tre, phạt ngọn, buộc cọc
ghìm vào miệng bình, lấy đuốc lửa đốt phần giữa, nước cốt - trúc lịch sẽ
chảy dần vào bình. Nó có tác dụng thanh nhiệt, trừ đờm, định suyễn;
dùng chữa hen suyễn do đờm nhiệt, trúng phong hôn mê, kinh giản, điên
cuồng.

Ngoài ra, măng tre, cặn
đọng trong đốt tre (thiên trúc hoàng) cũng có thể sử dụng làm thuốc.

Một số bài thuốc từ
cây tre

Dự phòng viêm não B: Dùng lá
tre, vỏ bí đao, lá sen, rễ cỏ tranh mỗi thứ 9 g, sắc nước uống thay nước
trong ngày. Để dự phòng viêm não, mỗi tuần cần uống 1-2 ngày.

[size=12
]Chữa
sốt cao, mê man do viêm não:
Dùng trúc lịch
30-50 g, hòa với nước đã đun sôi, chia ra uống trong ngày.[/size]

Chữa ho
suyễn, hoặc trúng phong cấm khẩu:
Gừng sống
giã vắt lấy nước cốt 1 chén, hòa với 1 chén trúc lịch cho bệnh nhân uống
dần.

Chữa ho khan: Dùng lá tre, rau
má, vỏ rễ dâu mỗi thứ 12 g, quả dành dành (sao vàng) 8 g, lá chanh 8 g,
cam thảo 6 g; nước 700-800 ml, sắc còn 250-300 ml, chia 2 lần uống trong
ngày; cũng có thể tán thô, hãm vào phích uống dần. Dùng cho các trường
hợp ho khan, đờm sát, cổ họng khô và ngứa, rêu lưỡi vàng mỏng.

Chữa viêm màng phổi có tràn dịch: Lá tre 20 g, thạch
cao 20 g, vỏ rễ dâu, hạt rau đay, hạt bìm bìm, rễ cỏ tranh, thổ phục
linh, bông mã đề mỗi thứ 12 g. Dùng 600 ml nước, sắc còn 200 ml; uống
hết một lần trước bữa trưa 30 phút. Lại thêm nước, sắc lần thứ hai, uống
trước bữa cơm chiều. Cùng với việc điều trị bằng kháng sinh, bài thuốc
này có tác dụng hỗ trợ rất tốt.

Chữa nấc (do nhiệt):
Dùng lá tre, tinh tre, gạo tẻ (rang vàng) mỗi thứ 20 g, thạch cao
(nướng đỏ) 30 g, bán hạ 8 g, mạch môn (bỏ lõi) 16 g, tai quả hồng 10
cái; nước 800 ml, sắc còn 300 ml, chia hai lần uống trong ngày. Thuốc
này có tác dụng thuận khí, giáng hỏa, thích hợp với chứng nấc do nhiệt -
kèm theo các triệu chứng người bứt rứt, khát nước, miệng hôi, tiểu tiện
đỏ sẻn, đại tiện táo kết... Không dùng cho chứng nấc do hàn.

Chữa miệng lưỡi lở loét: Búp tre 15- 20 g, sinh địa
10 g, mộc thông 10 g, cam thảo 8 g, sắc nước uống thay nước trong ngày.
Bài thuốc có tác dụng "thanh tâm trừ phiền", dùng trong trường hợp Tâm
kinh thực nhiệt, phiền táo, khát nước, miệng lưỡi lở loét, tiểu tiện
vàng sẻn.

Chữa đái ra máu: Lá tre ,
mạch môn, mã đề, rễ cỏ tranh, thài lài tía, râu ngô mỗi thứ 20 g; nước
700 ml, sắc còn 300 ml, chia 2 lần uống trong ngày. Thuốc này có tác
dụng thanh tâm, lợi niêu, chỉ huyết (cầm máu), thích hợp với chứng tiểu
tiện xuất huyết do nhiệt độc tích tụ ở bàng quang.



Nguồn: đông y việt nam

Tài Sản của hoangvietdung1010

|---------Chữ ký--------->
Cuộc sống luôn luôn có sự đua tranh, không những về thời gian, mà còn là tiền tài danh vọng...........
NHỚ BẤM THANKS CHO BÀI VIẾT CỦA TÔI NHÉ MẤY BẠN, HEHE


Được sửa bởi hoangvietdung1010 ngày Wed Mar 23, 2011 8:24 am; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
handoivodoi
Trưởng phòng chém gió
Trưởng phòng chém gió
avatar

Ngày tham gia : 14/03/2011
Posts : 115
Đến từ : địa ngục
Points : 183
Reputation : 6

Bài gửiTiêu đề: Re: Cây tre, vị thuốc lâu đời   Wed Mar 23, 2011 7:56 am

hoangvietdung1010 đã viết:
[size=9]Để chữa mất ngủ, tâm phiền hồi hộp, dùng tinh tre 16 g, mạch
môn (củ cây tóc tiên) 16 g, sắc nước uống trong ngày. Tinh trẻ là vị
thuốc chế bằng cách cạo bỏ vỏ xanh bên ngoài của cây tre, sau đó cạo lấy
lớp thân bên trong thành từng mảnh hay sợi mỏng.

Cây tre được sử dụng làm thuốc trong dân
gian và đông y từ lâu đời. Nhiều vị thuốc được chế từ cây này. Chẳng
hạn, tinh tre có tác dụng thanh hóa nhiệt đàm, trừ phiền, chống nôn;
dùng chữa ho đờm vàng đặc, bồn chồn mất ngủ, nôn mửa.

Trúc diệp là lá tre bánh tẻ hoặc lá non của cây tre, có tác
dụng thanh nhiệt trừ phiền, sinh tân dịch, lợi niệu. Nó thường được dùng
chữa nhiệt tà gây tổn thương tân dịch, phiền táo, khát nước, miệng lưỡi
lở loét, tiểu tiện sẻn đỏ. Tác dụng của lá bánh tẻ và lá non còn cuộn
tròn (búp tre) tương tự như nhau; nhưng khi chữa các bệnh nhiệt ở phủ vị
thì người ta thường dùng lá, còn khi chữa bệnh nhiệt ở tạng tâm thường
dùng búp.

Trúc lịch là vị thuốc
chế bằng cách chặt tre tươi, cắt thành từng đoạn, nướng lên và vắt lấy
nước; hoặc uốn cong cây tre non ngay tại bụi tre, phạt ngọn, buộc cọc
ghìm vào miệng bình, lấy đuốc lửa đốt phần giữa, nước cốt - trúc lịch sẽ
chảy dần vào bình. Nó có tác dụng thanh nhiệt, trừ đờm, định suyễn;
dùng chữa hen suyễn do đờm nhiệt, trúng phong hôn mê, kinh giản, điên
cuồng.

Ngoài ra, măng tre, cặn
đọng trong đốt tre (thiên trúc hoàng) cũng có thể sử dụng làm thuốc.

Một số bài thuốc từ
cây tre

Dự phòng viêm não B: Dùng lá
tre, vỏ bí đao, lá sen, rễ cỏ tranh mỗi thứ 9 g, sắc nước uống thay nước
trong ngày. Để dự phòng viêm não, mỗi tuần cần uống 1-2 ngày.

Chữa
sốt cao, mê man do viêm não:
Dùng trúc lịch
30-50 g, hòa với nước đã đun sôi, chia ra uống trong ngày.

Chữa ho
suyễn, hoặc trúng phong cấm khẩu:
Gừng sống
giã vắt lấy nước cốt 1 chén, hòa với 1 chén trúc lịch cho bệnh nhân uống
dần.

Chữa ho khan: Dùng lá tre, rau
má, vỏ rễ dâu mỗi thứ 12 g, quả dành dành (sao vàng) 8 g, lá chanh 8 g,
cam thảo 6 g; nước 700-800 ml, sắc còn 250-300 ml, chia 2 lần uống trong
ngày; cũng có thể tán thô, hãm vào phích uống dần. Dùng cho các trường
hợp ho khan, đờm sát, cổ họng khô và ngứa, rêu lưỡi vàng mỏng.

Chữa viêm màng phổi có tràn dịch: Lá tre 20 g, thạch
cao 20 g, vỏ rễ dâu, hạt rau đay, hạt bìm bìm, rễ cỏ tranh, thổ phục
linh, bông mã đề mỗi thứ 12 g. Dùng 600 ml nước, sắc còn 200 ml; uống
hết một lần trước bữa trưa 30 phút. Lại thêm nước, sắc lần thứ hai, uống
trước bữa cơm chiều. Cùng với việc điều trị bằng kháng sinh, bài thuốc
này có tác dụng hỗ trợ rất tốt.

Chữa nấc (do nhiệt):
Dùng lá tre, tinh tre, gạo tẻ (rang vàng) mỗi thứ 20 g, thạch cao
(nướng đỏ) 30 g, bán hạ 8 g, mạch môn (bỏ lõi) 16 g, tai quả hồng 10
cái; nước 800 ml, sắc còn 300 ml, chia hai lần uống trong ngày. Thuốc
này có tác dụng thuận khí, giáng hỏa, thích hợp với chứng nấc do nhiệt -
kèm theo các triệu chứng người bứt rứt, khát nước, miệng hôi, tiểu tiện
đỏ sẻn, đại tiện táo kết... Không dùng cho chứng nấc do hàn.

Chữa miệng lưỡi lở loét: Búp tre 15- 20 g, sinh địa
10 g, mộc thông 10 g, cam thảo 8 g, sắc nước uống thay nước trong ngày.
Bài thuốc có tác dụng "thanh tâm trừ phiền", dùng trong trường hợp Tâm
kinh thực nhiệt, phiền táo, khát nước, miệng lưỡi lở loét, tiểu tiện
vàng sẻn.

Chữa đái ra máu: Lá tre ,
mạch môn, mã đề, rễ cỏ tranh, thài lài tía, râu ngô mỗi thứ 20 g; nước
700 ml, sắc còn 300 ml, chia 2 lần uống trong ngày. Thuốc này có tác
dụng thanh tâm, lợi niêu, chỉ huyết (cầm máu), thích hợp với chứng tiểu
tiện xuất huyết do nhiệt độc tích tụ ở bàng quang.



Nguồn: đông y việt nam
Bài viết này có ích đấy nhưng mỗi tội đọc đau mắt vì màu chữ quá. đề nghị bạn Dũng chỉnh lại màu chữ cho dễ đọc cái. thanks !!!!!!
P/S : mình nhớ có bài thuốc xông trị cảm nắng bằng lá tre nữa rất hay. Dũng tìm rồi post lên luôn để mọi người tham khảo. afro afro afro
Tài Sản của handoivodoi
Tài sản
Huân chương:

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
hoangvietdung1010
Lớp trưởng
Lớp trưởng
avatar

Ngày tham gia : 13/03/2011
Posts : 171
Tuổi : 27
Sinh nhật : 10/10/1990
Đến từ : Huế
Points : 235
Reputation : 12

Bài gửiTiêu đề: Re: Cây tre, vị thuốc lâu đời   Wed Mar 23, 2011 8:25 am

có ích mà k thanks àh, hahaa
Tài Sản của hoangvietdung1010

|---------Chữ ký--------->
Cuộc sống luôn luôn có sự đua tranh, không những về thời gian, mà còn là tiền tài danh vọng...........
NHỚ BẤM THANKS CHO BÀI VIẾT CỦA TÔI NHÉ MẤY BẠN, HEHE
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Cây tre, vị thuốc lâu đời   

Tài Sản của Sponsored content
Về Đầu Trang Go down
 

Cây tre, vị thuốc lâu đời

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
DIỄN ĐÀN LỚP YHCT KHÓA 2008*2014 - ĐHYD HUẾ :: GÓC HỌC TẬP :: THẢO LUẬN VỀ YHCT :: Thực vật dược-
Chuyển đến 
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a blog